2026-02-24
báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới

Giấy phép lái xe hạng D là loại giấy phép cho phép người điều khiển các loại xe ô tô chở khách có thiết kế từ 10 đến 30 chỗ ngồi, kể cả chỗ ngồi của người lái xe. Điều này đồng nghĩa với việc những ai sở hữu bằng D có thể điều khiển được các loại xe như xe ô tô khách loại vừa, xe khách hợp đồng, xe du lịch cỡ trung và các loại xe buýt nội thành hoặc liên tỉnh có sức chứa trong khoảng quy định. Ngoài ra, bằng D cũng cho phép người lái điều khiển các loại xe thuộc giấy phép hạng thấp hơn như B1, B2, C, tức là có thể lái xe con dưới 9 chỗ, xe tải, xe đầu kéo dưới 3.500 kg hoặc các dòng xe chuyên dụng.

Tuy nhiên, người sở hữu bằng D không được phép điều khiển các loại xe ô tô chở khách trên 30 chỗ bởi vì những loại xe này đòi hỏi phải có giấy phép lái xe hạng E chuyên biệt. Nếu cố tình điều khiển các phương tiện này khi chỉ có bằng D, người lái sẽ vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và đối diện với mức phạt khá nặng. Bên cạnh đó, để học và thi sát hạch lấy giấy phép lái xe hạng D, người dự thi thường phải đã có bằng lái xe hạng B2 trở lên và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm lái xe thực tế, nhằm đảm bảo người lái đủ năng lực cũng như kiến thức an toàn khi điều khiển các loại xe khách cỡ trung nhiều chỗ ngồi.

Bằng D thường được sử dụng phổ biến trong ngành vận tải hành khách, đặc biệt với những người làm nghề lái xe hợp đồng, xe du lịch hay xe buýt. Việc sở hữu tấm bằng này giúp tăng cơ hội việc làm, mở rộng phạm vi lái xe trong các tuyến đường nội thành, ngoại tỉnh hoặc liên tỉnh ngắn. Tuy nhiên, người có bằng D vẫn cần thường xuyên cập nhật kiến thức về biển báo giao thông, quy tắc an toàn và kỹ thuật lái xe đặc thù của loại xe khách chở nhiều người, nhằm đảm bảo an toàn tối đa trên mỗi hành trình. Do vậy, bằng D không chỉ đơn thuần là giấy phép mà còn là minh chứng cho năng lực và trách nhiệm của người lái xe khi tham gia giao thông.

Từ khóa: báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới

Thể loại: Tài chính