Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là quyền của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định để áp dụng hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), thẩm quyền xử phạt thuộc về nhiều chủ thể khác nhau như Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thanh tra chuyên ngành, Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Quản lý thị trường, v.v. Mỗi chủ thể sẽ có giới hạn về mức phạt tiền, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả cũng như quy trình xử phạt riêng biệt theo quy định pháp luật.
Trong thực tiễn, việc phân định rõ ràng thẩm quyền xử phạt không chỉ đảm bảo cho quá trình xử lý vi phạm hành chính được minh bạch, đúng pháp luật mà còn hạn chế tình trạng chồng chéo, lạm quyền hoặc bỏ lọt hành vi vi phạm. Việc này còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Chẳng hạn, Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền xử phạt với mức tiền không quá 5 triệu đồng đối với cá nhân và không quá 10 triệu đồng đối với tổ chức; trong khi Thanh tra chuyên ngành ở Bộ, Sở thì có mức phạt cao hơn và phạm vi rộng hơn tùy từng lĩnh vực phụ trách.
Bên cạnh đó, quy trình xử phạt vi phạm hành chính cũng phải tuân thủ các nguyên tắc về trình tự, thủ tục như lập biên bản vi phạm, ra quyết định xử phạt và các bước giải trình, khiếu nại theo quy định. Nếu có nghi vấn về thẩm quyền xử phạt, người bị xử phạt có quyền yêu cầu xem xét lại quyết định hoặc khởi kiện ra Tòa án. Điều này phản ánh tính pháp lý chặt chẽ của hệ thống xử lý vi phạm hành chính tại Việt Nam, nhằm bảo đảm quyền lợi cho mọi bên liên quan và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong xã hội.
Từ khóa: bánh trung thu minh tuyến
Thể loại: Tài chính